“Một phần mấy” xuất hiện khi một đơn vị được chia thành nhiều phần bằng nhau và ta lấy một trong các phần đó. Đây là bước chuẩn bị quan trọng trước khi học sâu hơn về phân số.
Một phần mấy chỉ có ý nghĩa khi chia thành các phần bằng nhau
- Muốn có một phần mấy, trước hết phải chia đơn vị thành các phần bằng nhau.
- Một trong 2 phần bằng nhau là một phần hai; một trong 3 phần bằng nhau là một phần ba.
- Có thể viết một phần hai là 12, một phần ba là 13, một phần tư là 14.
Cách nhận biết một phần mấy
Quan sát xem hình hoặc nhóm đồ vật được chia thành bao nhiêu phần bằng nhau. Mẫu số cho biết số phần bằng nhau đó; tử số 1 cho biết đang xét một phần.
Nếu một chiếc bánh chia thành 4 miếng bằng nhau, mỗi miếng là 14 chiếc bánh.
Nếu hình được chia thành các phần không bằng nhau thì không thể gọi mỗi phần là cùng một phần mấy của hình.
Nhìn hình và gọi tên một phần mấy
Ví dụ 1: Một thanh giấy được chia đều thành 5 phần. Một phần là bao nhiêu thanh giấy?
Cách làm: 15 thanh giấy.
Ví dụ 2: Có 8 quả cam chia đều vào 4 đĩa. Số cam trong một đĩa là một phần mấy số cam?
Cách làm: Một phần tư, tức 14.
Không coi các phần không bằng nhau là một phần mấy
- Chỉ đếm số phần mà không kiểm tra các phần có bằng nhau hay không.
- Nhầm 13 với 3 phần được lấy.
- Dùng “một phần mấy” cho một hình chưa được chia đều.
Tự luyện nhận biết một phần mấy
- Một hình chia đều 6 phần, tô 1 phần. Phần tô màu là bao nhiêu?
Đáp số: 16. - Một chiếc bánh chia 2 phần bằng nhau. Một phần là bao nhiêu?
Đáp số: 12. - Có thể gọi một trong 4 phần không bằng nhau là 14 của hình không?
Đáp số: Không.
Cùng một đơn vị thì phần chia càng nhiều, mỗi phần càng nhỏ
Một chiếc bánh chia đều thành 2 phần thì mỗi phần là 12; chia đều cùng chiếc bánh đó thành 4 phần thì mỗi phần là 14. Vì bốn phần nhỏ hơn hai phần nên 14 nhỏ hơn 12.
Điều quan trọng là các phần phải bằng nhau. Nếu một hình được chia thành 4 phần không bằng nhau rồi tô 1 phần, không thể kết luận phần tô màu là 14 của hình.
Góc Hỏi Đáp (0 bình luận)