“Một phần mấy” xuất hiện khi một đơn vị được chia thành các phần bằng nhau và ta lấy một trong các phần đó. Ở lớp 3, học sinh cần nhận biết, đọc và viết các dạng như 12, 13, 14,…; chưa thực hiện các phép tính với phân số.
Hiểu “một phần mấy” bằng cách chia đều
Một chiếc bánh được chia thành 4 phần bằng nhau. Mỗi phần là một phần tư chiếc bánh, viết là 14.
Nếu chia một hình thành 6 phần bằng nhau và tô đúng 1 phần thì phần tô màu là một phần sáu, viết là 16.
Điều kiện quan trọng là các phần phải bằng nhau. Nếu hình được chia thành 4 phần nhưng kích thước các phần khác nhau thì không thể gọi mỗi phần là 14 của hình.
Cách đọc và viết
- 12: một phần hai.
- 13: một phần ba.
- 14: một phần tư.
- 15: một phần năm.
- 18: một phần tám.
Số ở dưới cho biết đơn vị được chia thành bao nhiêu phần bằng nhau; số 1 ở trên cho biết ta đang xét một phần trong số các phần đó. Ở lớp 3 chỉ cần hiểu ý nghĩa này, chưa cần học sâu các khái niệm và phép tính về phân số.
Một phần mấy của một nhóm đồ vật
Có 12 quả cam chia đều vào 3 rổ. Mỗi rổ có 4 quả và là một trong 3 phần bằng nhau của cả nhóm. Vì vậy số cam trong mỗi rổ bằng 13 tổng số cam.
Tương tự, 20 viên bi chia đều vào 5 hộp thì mỗi hộp có 4 viên và bằng 15 số bi ban đầu.
Ví dụ
Ví dụ 1: Một thanh giấy chia đều thành 5 phần. Một phần là bao nhiêu thanh giấy?
Trả lời: Một phần năm, viết 15.
Ví dụ 2: Một hình tròn chia thành 8 phần bằng nhau và tô 1 phần. Phần tô màu là gì?
Trả lời: Một phần tám, viết 18.
Những lỗi cần tránh
- Chỉ đếm số phần mà không kiểm tra các phần có bằng nhau hay không.
- Nhìn thấy 4 phần rồi cho rằng một phần luôn là 14, dù 4 phần không bằng nhau.
- Nhầm “một phần tư” với “bốn phần”.
Tự luyện
- Một hình chia đều 6 phần, tô 1 phần. Phần tô màu là gì? Đáp số: 16.
- Một chiếc bánh chia 2 phần bằng nhau. Một phần là gì? Đáp số: 12.
- 18 bông hoa chia đều vào 6 lọ. Mỗi lọ có mấy bông? Đáp số: 3 bông.
Góc Hỏi Đáp (0 bình luận)